Thưa ông, sau một năm chính thức sáp nhập Hà Nội và Hà Tây, Hà Nội mới đang gặp phải những vấn đề gì trong quá trình quy hoạch và phát triển đô thị?
Theo tôi, vấn đề lớn nhất chính là vấn đề về đường lối, quan điểm để phát triển thủ đô. Tìm ra được cái mô hình thích hợp, tìm ra cái mới khác biệt với các đô thị khác để tại nét đặc sắc riêng cho Thủ đô là rất khó. Có thể là do địa phương chưa hiểu hết chỉ đạo của cấp trên, chưa hiểu hết đường lối phát triển đô thị Việt Nam và tiến tới cái ngưỡng của thủ đô mà trong lòng dân mong muốn. Tôi nhấn mạnh, không phải chỉ có cấp trên mà cả trong lòng dân nữa. Bây giờ nếu thiết kế một cái mà chưa hiểu nhân dân thủ đô, nhân dân cả nước nghĩ gì, cần gì thì sẽ vấp phải nhiều luồng dư luận không đồng tình. Nếu làm không tốt, thì đấy không có nghĩa sự chỉ đạo của cấp trên chưa cụ thể về đường lối, mà ấy là do đơn vị tư vấn chưa sâu sắc, chưa hiểu nhân dân.
Thứ hai là sự tham gia của UBND, Hội đồng xét duyệt cấp Tỉnh, Thành phố như theo luật định, nhưng hiện nay vai trò của hai cơ quan này còn mờ nhạt, mọi sự đều do Bộ Xây dựng trực tiếp chủ trì và bên tư vấn thực hiện theo ý kiến của Bộ Xây dựng. Theo điều 19 đến 21 của bộ luật xây dựng, điều kiện độc lập trong nhiệm vụ thiết kế, lập dự án thuộc thẩm quyền cấp Tỉnh, Thành phố. Các cơ quan này tiến hành lập quy hoạch, đồ án quy hoạch chung của khu đô thị đặc biệt, loại 1 hay loại 2 rồi trình trước HĐND cùng cấp thông qua. Bộ Xây dựng có chức năng thẩm định để trình chính phủ, nhưng hiện nay ko làm theo hướng đó, nhưng đây là quy định chung của Quốc hội mà nếu như ta làm khác thì rất khó. Trong khi đó, địa phương là đơn vị tiếp nhận và quản lý cuối cùng, nếu vai trò của người ta mờ nhạt trong việc lập quy hoạch, triển khai quy hoạch, thì rõ ràng người ta sẽ làm không tốt rồi.
Cái thứ ba là về nội dung, trong nội dung quy hoạch đơn vị tư vấn cũng rất cố gắng hoàn thành, nhưng thời gian quá ngắn chỉ có 12 tháng, chiến lược thì rất là dài và cần phải kỹ càng. Trong khi thủ đô của chúng ta đã có từ lâu đời, với hàng nghìn năm lịch sử. Hồn thiêng sông núi quy tụ về cùng non nước, do đó để am hiểu một đối tượng hết sức phức tạp, hết sức thiêng liêng như Hà Nội là rất khó khăn cho nhà từ vấn nước ngoài. Đấy là một khó khăn, khó khăn thứ hai là phạm vi nghiên cứu quá rộng, vì nó gốm hai tỉnh, hai đơn vị hành chính nhập lại. Do đó hết sức lúng túng trong việc điều tra, thu thập và xử lý số liệu.
Hơn thế nữa, do chưa lựa chọn được bản đồ đất đai phù hợp nên nhà tư vấn trong nhiều lần nghiên cứu chọn đất, chọn hướng phát triển vẫn dựa vào cảm tính, chứ không căn cứ vào đánh giá thực trạng đất đai và môi trường để xác định được tiềm năng ở đây bao nhiêu đất thuận lợi, bao nhiêu đất ít thuận lợi, bao nhiêu đất không thuận lợi. Trên cơ sở đó mới xác định được rằng có khả năng xây dựng ở đó hay không. Việc đó mang tính chủ quan, cảm tính, nhập cảng những lý thuyết cứng ngắc trong xây dựng. Cái khó thứ ba nữa là cái tầm nhìn, triết lý còn khá chung chung.
Bởi vì có một thực tế đưa ra là bốn nguyên tắc, bốn quan điểm để chỉ đạo việc này. Một là xác định tầm của Thủ đô trong thế kỷ 21 phải tương xứng với tiềm năng của nó. Hai là tạo ra khối đô thị năng động, có sức cạnh tranh mạnh mẽ so với các thủ đô, đô thị khác trong khu vực và Thế giới. Ba là phải xây dựng kiến trúc Thủ đô có tính độc lập với đặc điểm riêng. Bốn là phải giữ được nét hóa truyền thong đặc sắc của Thủ đô. Với định hướng là xóa dần sự chênh lệch giữa các cùng lân cận, đi đến quan điểm chống siêu thành phố, chống bệnh đầu to siêu thành phố và tạo ra một cấu trúc hài hòa giữa đô thị và nông thôn, thì có lẽ là tư vấn có quá ít thời gian để hiểu cái độ sâu sắc trong sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước.
So với mục tiêu ban đầu đã đề ra, đến thời điểm này Hà Nội mới đã làm được những gì, thưa ông?
Đến thời điểm này, tôi thấy công việc vẫn còn rất bề bộn, rất nhiều việc cần làm. Sau khi sáp nhập Thủ đô, chính phủ đã giao cho Thành Phố chọn các nhà tư vấn Hàn Quốc và Mỹ liên danh cộng tác với Viện quy hoạch đô thị nông thôn – Bộ Xây dựng và Viện quy hoạch đô thị Hà Nội.
Qua các lần tiếp xúc, tôi cho rằng: Thứ nhất, đây là một nhiệm vụ rất là mở, và đã mở thì nó đồng nghĩa với khá là chung chung. Trên cơ sở đó, xác định những chỉ tiêu, những khung để khống chế chỉ tiêu, nó cần có sự nghiên cứu, cần một luận cứ khoa học sâu sắc. Tôi lấy ví dụ chỉ tiêu GDP theo như dự báo là 20.000 USD trong tương lai, nhưng phải dựa trên cơ sở nào để hoàn thành? Căn cứ đâu để làm việc đó?
Thứ hai là quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo tầm nhìn năm 2030 thế nào? Năm 2050 thế nào? Tương tự như vậy, với quy mô dân số - quy mô đất đai, vấn đề nhu cầu nhà đầu tư và các chỉ tiêu kinh tế - xã hội cũng thế. Cái này rất quan trọng, nó giống như một ông chủ nhà khi muốn xây nhà của mình phải đặt hàng với Kiến trúc sư, phải nói rõ điều kiện và yêu cầu: Chúng tôi có từng này tiền, tôi cần phải xây bao nhiêu phòng, phòng ấy để làm gì? Chúng ta cần thêm một bước nữa sẽ tốt hơn nhiều so với bây giờ, khi mà chỉ vừa có dự án thì tư vấn bước vào thiết kế ngay, vẽ ngay.
Về mô hình cấu trúc đô thị thì người ta vẫn theo một mô hình chùm không có gì đổi mới so với bản quy hoạch chung 1998, cơ bản được vẽ lại với một đô thị trung tâm với nhiều vệ tinh xung quanh. Và vùng đát đã chọn thì chọn từ trước rồi, tốn rất nhiều tiền nhưng đi vẽ lại cái không có gì mới như thế thì không phải là điều mong ước và kỳ vọng của nhân dân. Thế nên việc người ta cơi nới, mỏ rộng ra vùng ven đô, cũng như Phú Xuyên là không hay. Đó là một vùng đất rất trũng mà bị nguy cơ úng ngập, lũ lụt thường xuyen, trong khi Thế kỷ 21 là Thế kỷ biến đổi khí hậu. Mà việc phát triển sâu trong nội đồng đẫn đến ảnh hưởng về vấn đề thoát nước, tình trạng ngập úng, vấn đề ách tắc giao thông rất dễ xảy ra.
Với một quy hoạch không mới như thế, cùng quy mô dân số trên 6 triệu người và đang có xu hướng là đổ về trung tâm đô thị để sinh sống, vậy theo ông Hà Nội đang phải đối mặt với những vấn đề gì?
Các trung tâm đô thị thì có khả năng buôn bán khá lớn, nên nó tập trung rất nhiều người buôn bán. Vừa rồi chúng ta đương đầu với khá nhiều vấn đề như: Sự biến đổi khí hậu, vấn đề ô nhiễm môi trường, giao thông… rồi là các vấn đề về công ăn việc làm, tăng trưởng dân số, mất cân bằng giới tính hết sức là cao. Thường thì mỗi trung tâm đô thị sức chứa nó có hạn, trong khi sức chứa của trung tâm Hà Nội đang quá tải. Ví dụ khả năng dung nạp của trung tâm Hà Nội chỉ khoảng 2 triệu người đến 3 triệu người, trước đây chúng ta đã từng tính toán như thế rồi, nếu như mà tất cả đều dồn về đây, vượt qua ngưỡng đó thì nó sẽ không thể chịu nổi, nó sẽ kinh khủng lắm. Không khác gì cái tải trọng, cái cấu kiện nó chỉ có thể chịu được khoảng khối lượng như vậy, nhưng rồi để nhiều quá thì nó sẽ đứt, sẽ đổ vỡ.
Vậy trong tương lai, quy hoạch đô thị Hà Nội phải làm thế nào để cho hài hòa, tránh sự quá tải, thưa ông?
Phát triển hài hòa, đó chính là cái mô hình mà chúng ta đang tìm kiếm, đó chính là vấn đề mà các cấp trên quy hoạch đô thị tìm kiếm. Mục tiêu là xây dựng một môi trường đô thị thịnh vượng trên cơ sở kết hợp hài hòa giữa quá khứ và hiện tại để cải tạo, tạo nên những diện mạo mới hài hòa giữa đô thị với nông thôn, giữa ngoại ô với nội thành.
Vậy thì mô hình thứ nhất vẫn là đầu não hành chính của thủ đô đặt tại trung tâm đang hiện hữu này trên cơ sở quy hoạch đô thị năm 1998 và cố gắng hạn chế việc cơi nới mở rộng ra. Chúng ta nên tăng cường cải tạo và chỉnh trang đô thị của chúng ta cho nó đúng tầm của khu vực, rồi là các thiết bị công cộng, điện máy, kết cấu hạ tầng… Và theo dự báo của tôi, đô thị có thể chứa được ba triệu dân, tầm đó là vừa. Khu vực Sông Hồng thì có khu vực phía Nam sông Hồng, phía Bắc sông Hồng thì thì gồm có khu Nam Đông Anh và thứ ba là khu vực bên Gia Lâm. Tất cả cái đó là khoảng độ trên 10.000 hecta. Nơi này chính là đầu não, là ngôi sao lớn nhất, xung quanh nó thì có các khu đô thị vừa và nhỏ gắn với vùng công nghiệp ngoại thành.
Ví dụ như các thị trấn làm sao có thể liên kết các khu đô thị lại với nhau thành một thể thống nhất, người dân người ta có thể cung cấp các cái dịch vụ theo nhu cầu. Các khu làng xã xung quanh họ có thể bám các hành lang giao thông, bám vào các hành lang công nghiệp đó, trục đó như khu tiểu công nghiệp, khu nhà ở và họ có thể đi vào khu trung tâm làm việc hàng ngày. Ở ngoài Hà Nội có thể đi vào Hà Nội, như vậy nó có thể tạo nên sự cân bằng giữa các đô thị lớn với các vùng ven đô, các vùng ven đô có thể như một bộ phận cấu thành thủ đô Hà Nội, nghĩa là có thể mở rộng thanh phố với một hệ thống giao thông tốc hành như tàu điện là rất thuận lợi.
Tiếp theo nữa là chúng ta xây dựng hệ thống đô thị yếu trọng, tôi cho là chỉ có vài vùng yếu trọng để mở rộng là: Sơn Tấy, Hòa Lạc, Xuân Mai, Chúc Sơn… có thể lên tới hơn một triệu dân. Ở đây đã có cái nền tảng, cơ sở để phát triển công nghệ cao, các trường đại học rồi là các khu công nghiệp, nhà văn hóa dân tộc rồi trường quay rồi các khu nhà khác… Thì đấy là các vùng đặc trưng, để vứt ra các khu vực kinh tế các vùng kinh tế còn lạc hậu.
Thêm nữa là khu vực Tây Bắc Thành phố, khu này cũng có thể mở rộng trên một triệu người, đó cũng là một vùng rất có giá trị để hỗ trợ mở rộng đô thị. Chúng ta mở rộng đô thị với 5 ngôi sao lớn mà ngôi sao lớn nhất chính là đô thị trung tâm, nơi đây là đầu não, trung tâm đầu não về tất cả các lĩnh vực của cả nước và là trái tim của cả nước. Bốn ngôi sao lớn nữa khác hỗ trợ đó là đô thị lớn Vĩnh Phúc, tức là trên cơ sở TP. Vĩnh Yên, phối kết với Bình Xuyên và Vĩnh phúc, cũng như Xuân hòa và Phúc Yên tạo thành ngôi sao thứ 2. Ngôi sao thứ 3 nữa là Bắc Ninh – Khu đô thị Bắc Ninh - Kinh Bắc nơi đó là nơi Văn vật rất quan trọng tới phát triển. Có Văn hiến cũng như là công nghiệp, giáo dục, các ngôi trường đại học…. rất giá trị, rất hấp dẫn đầu tư.
Tiếp theo nữa là Hưng Yên với Phố Hiến cũng mang nhiều giá trị văn hóa và bây giờ do có sự kết nối giữa Hải phòng – Hà Nội, nó nằm trên cái vùng danh giới đó thì cũng rất thuận lợi, rất phát triển. Và để làm được điều đó chúng ta phải quy hoạch ngay từ bây giờ,
Xin cảm ơn ông.